HÒA BÌNH - HỮU NGHỊ - HỢP TÁC - HỘI NHẬP 
Thời kỳ sau giải phóng, xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng XHCN và bước đầu đổi mới (1975-1992)
10/11/2015 - 15:55

Sau  ngày chiến thắng 30-4-1975, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, cả nước cùng bước vào thời kỳ quá độ xây dựng chủ nghĩa xã hội với hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng quan hệ giữa Việt Nam với Campuchia xấu đi nhanh chóng do những cuộc tấn công quân sự trên toàn tuyến biên giới của Chính quyền Pôn Pốt tiến hành, đồng thời quan hệ  Việt Nam – Trung Quốc cũng ngày càng căng thẳng. Quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á nhìn chung vẫn còn lạnh nhạt, thậm chí bất đồng sâu sắc. Như vậy, mặc dù đất nước không còn chiến tranh xâm lược, đã bước vào thời bình khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội, nhưng một môi trường hòa bình và ổn định để xây dựng đất nước chưa được bảo đảm.

Sau thắng lợi, không khí cách mạng dâng cao là một thuận lợi, nhưng hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề cả về vật chất và con người, trong khi đó Việt Nam lại phải đối phó với chính sách cấm vận và chiến lược hậu chiến phá hoại của Mỹ. Tư duy quản lý từ thời chiến khi chuyển sang thời bình chưa kịp thời thay đổi, vẫn nặng về duy ý chí và quan lieu bao cấp trong quản lý, khiến tình hình kinh tế - xã hội rất khó khăn.

Trên trường quốc tế, chiến thắng của Việt Nam là nguồn cổ vũ và đóng góp to lớn vào sự phát triển của phong trào nhân dân thế giới đấu tranh vì hòa bình. Tuy nhiên, mâu thuẫn Xô -  Trung, Mỹ - Trung diễn ra rất phức tạp, vừa cạnh tranh vừa hòa hoãn, cũng đặt phong trào ở nhiều nước trước những tình huống phức tạp.

Trước bối cảnh tình hình trong nước và quốc tế với những thuận lợi cũng như khó khăn thách thức, Hội nghị nêu rõ: “Nhiệm vụ công tác  đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là: Tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời củng cố quốc phòng và an ninh; phát huy tác dụng của Đảng ta và nước ta trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tăng cường đoàn kết với Lào và Campuchia, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, làm cho ba nước ở Đông Dương trở thành lực lượng vững chắc của cách mạng và hòa bình ở Đông Nam Á. Củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị giữa nước ta và các nước trong thế giới thứ ba cùng các nước khác trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hòa bình”.

Tiếp đó, Nghị quyết Đại hội Đảng làn thứ IV tháng 12-1976 đã nêu rõ: “Trong giai đoạn mới, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, củng cố quốc phòng; tiếp túc kề vai sát cánh với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tất cả các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội chống chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ”.

Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong thời gian này là:

“a) Ra sức tăng cường tình đoàn kết chiến đấu và quan hệ hợp tác giữa nước ta với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa an hem, làm hết sức mình để góp phần cùng quốc tế khôi phục và củng cố đoàn kết, tăng cường ủng hộ và giúp đỡ lẫn nhau trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình, làm cho lý tưởng cao đẹp của chủ nghĩa Mác – Lênin ngày càng thắng lợi rực rỡ.

b) Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, lòng tin cậy, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt giữa nước ta với hai nước anh em trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau; làm cho ba nước vốn đã gắn bó với nhau trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ mãi gắn bó với nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vì độc lập và phồn vinh của mỗi nước.

c) Hoàn toàn ủng hộ sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của nhân dân các nước Đông Nam Á vì độc lập dân tộc, dân chủ, hòa bình và trung lập thật sự, không có các căn cứ quân sự và quân đội của đế quốc trên đất nước mình; sẵm sàng thiết lập và phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trong khu vực này trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau bình đẳng và cùng có lợi, cùng tồn tại trong hòa bình.

d) Hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân cũ và mới, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vì độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị và quan hệ hợp tác giúp nhau về mọi mặt giữa nước ta với các nước phát triển; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của phong trào các nước không liên kết chống chính sách xâm lược và lung đoạn của chủ nghĩa đế quốc, nhằm bảo vệ độc lập, tự do, giành lại quyền làm chủ vĩnh viễn tài nguyên thiên nhiên của nước mình và thiết lập một trật tự kinh tế quốc tế mới trên cơ sở tôn trọng chủ quyền dân tộc.

đ) Hoàn toàn ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của giai cấp công nhân và nhân dân lao động cac nước tư bản chủ nghĩa đang ra sức xây dựng mặt trận thống nhất rộng rãi, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào bọn tư bản lũng đoạn trong nước và nước ngoài, giành lại quyền dân sinh, dân chủ, tiến bộ xã hội, bảo vệ độc lập dân tộc và bảo vệ hòa bình thế giới, giành thắng lợi từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn cho chủ nghĩa xã hội.

e) Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.

g) Kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh chống chính sách xâm lược và gây chiến của bọn đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, góp phần tích cực vào sự nghiệp gìn giữ và củng cố hòa bình trên thế giới”.

Với đường lối, chính sách đối ngoại đó, ngay sau khi miền Nam được giải phóng, Bộ Chính trị và Ban Bí thư chủ trương thống nhất sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó có các hoạt động đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng. Ban Quốc tế nhân dân tiếp tục được duy trì và hoạt động, được bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và nhân sự của đơn vị làm đối ngoại nhân dân CP72. Lãnh đạo Ban là đồng chí Xuân Thủy – Trưởng ban và đồng chí Lê Toàn Thư -  Phó Trưởng ban.

Từ năm 1976, các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị của hai miền Nam -  Bắc lần lượt được hợp nhất, và cùng đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Quốc tế nhân dân.

Ban Quốc tế nhân dân có hai nhiệm vụ: Một là nghiên cứu và quản lý các hoạt động đối ngoại của các tổ chức nhân dân; hai là, nghiên cứu và trực tiếp tổ chức thực hiện các hoạt động hòa bình, đoàn kết, hữu nghị.

Nghị quyết của Ban Bí thư số 2246-NQNS/TW ngày 5-6-1974 nêu rõ:

“a) Trên cơ sở đường lối đối ngoại của Đảng, nghiên cứu đề xuất với Trung ương Đảng về chủ trương đối ngoại của các đoàn thể nhân dân, nhằm phối hợp với công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước, tăng cường hữu nghị với nhân dân các nước, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân ta ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

b) Theo dõi, điều hòa, phối hợp hoạt động quốc tế của các đoàn thể nhân dân miền Bắc; phối hợp hoạt động quốc tế của các đoàn thể nhân dân miền Nam trong các đợt vận động quốc tế rộng lớn và trong những hội nghị quốc tế quan trọng; giúp Trung ương Đảng xét duyệt các đề án, kế hoạch hoạt động quốc tế của các đoàn thể nhân dân miền Bắc.

c) Giúp trung ương Đảng trực tiếp chỉ đạo công tác của Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy ban Đoàn kết nhân dân với Mỹ, các hội hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước, Hội Quốc tế ngữ bảo vệ hòa bình Việt Nam.

d) Phối hợp với Bộ Ngoại giao, Ban Đối ngoại của Đảng và Ban Tuyên huấn Trung ương về chương trình và kế hoạch vận động quốc tê có liên quan; giúp những địa phương có quan hệ về công tác đối ngoại của nhân dân. Góp ý kiến về các chính sách, chế độ liên quan đến công tác đối ngoại của các đoàn thể nhân dân”.

Ngày 26-1-1978, Ban Bí thư Trung ương Đảng quyết định giải thể Ban Quốc tế nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ và nhân sự của Ban Quốc tế nhân dân được chuyển về Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, lập thành hai vụ mới: Vụ 7 chủ yếu nghiên cứu và trực tiếp triển khai thực hiện hoạt động của các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, trong đó có Ủy ban Việt Nam đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước; Vụ 8 chủ yếu nghiên cứu và quản lý công tác đối ngoại của các tổ chức nhân dân (này là Vụ Đối ngoại nhân dân của Ban Đối ngoại Trung ương).

Năm 1979 đánh dấu một bước ngoặt trên nhiều mặt của Việt Nam. Tháng 1-1979, Việt Nam đưa quân tình nguyện  vào Campuchia nhằm giúp các lực lượng cách mạng Campuchia lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt. Một tháng sau (tháng 2-1979), chiến tranh biên giới phía Bắc bùng nổ, nước ta phải đương đầu với những khó khăn thách thức mới. Trong khi đó, Mỹ vẫn tiếp tục cấm vận đối với Việt Nam, đồng thời quan hệ giữa Việt Nam và các nước Đông Nam Á chưa có biến chuyển tích cực.

Trong bối cảnh đó, Đại hội lần thứ V của Đảng  họp vào tháng 3-1982 đã đề ra mục tiêu của chính sách đối ngoại là: “Ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế to lớn và nhiều mặt cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước”. Đại hội khẳng định: “Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn là hòn đá tảng của chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta”.

Hoạt động của các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị được tăng cường và mở rộng. Năm 1984, Đảng đoàn Ủy ban Đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước được thành lập, với nhiệm vụ chỉ đạo hoạt động của tất cả các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị. Đồng chí Trịnh Ngọc Thái được cử làm Bí thư Đảng đoàn.

Tháng 12-1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng khởi xướng quá trình đổi mới toàn diện, trong đó có đổi mới tư duy đối ngoại. Nghị quyết Đại hội khẳng định:

“Tăng cường hoạt động trên lĩnh vực đối ngoại. Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, vì sự nghiệp dân tộc và nghĩa vụ quốc tế. Đấu tranh giữ vững hòa bình ở Đông Dương, góp phần gìn giữ hòa bình ở Đông Nam Á và châu Á – Thái Bình Dương và trên thế giới, chống chính sách của các giới đế quốc chạy đua vũ trang và gây nguy cơ chiến tranh hạt nhân, tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển và củng cố quan hệ đặc biệt giữa ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia; đoàn kết và tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi nước, hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết và hợp tác toàn diện với Liên Xô là hòn đá tảng trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác; góp phần tăng cường sức mạnh của cộng đồng xã hội chủ nghĩa.

Tăng cường đoàn kết phong trào cộng sản và công nhân quốc tế…Mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế…Ủng hộ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng và độc lập dân tộc… Mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình… sẵn sàng đàm phán để giải quyết những vấn đề thuộc quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ và khôi phục tình hữu nghị giữa hai nước, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới”.

Tháng 8-1989, Ủy ban Việt Nam đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước đổi tên thành Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam, bà Nguyễn Thị Bình được cử làm Chủ tịch kiêm Bí thư Đảng đoàn.

Tháng 12-1989, Ban Điều phối viện trợ nhân dân (PACCOM) được thành lập như một đơn vị trong Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam. Từ đó, Liên hiệp có thêm nhiệm vụ làm đầu mối vận động và quản lý các tổ chức phi chính phủ nước ngoài (trong thời kỳ chống Mỹ, đối với miền Bắc, các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị với Việt Nam chủ yếu ủng hộ ta về chính trị, tuy cũng đã có những chuyến hàng viện trợ, nhưng thường mang tính tượng trưng). Sau năm 1975, bạn bè ở Mỹ và Tây – Bắc Âu tiếp tục có những dự án nhỏ giúp đỡ chúng ta về y tế, quyên góp quần áo, như: Ủy ban Giúp đỡ y tế Việt Nam, Lào, Campuchia của Anh đã quyên góp nhiều thuốc giúp Việt Nam. Viện trợ lớn nhất là của Tổ chức Hành động giúp đỡ Việt Nam (HilfAktion Vietnam) của Cộng hòa Liên bang Đức do bà Sybille Weber làm Chủ tịch, đã giúp gần một triệu đôla để xây dựng Nhà máy kim khâu Cầu Bươu, Nhà máy dệt 10-10 của Hà Nội. Trước năm 1989, các khoản viện trợ nhỏ từ các tổ chức hữu nghị và đoàn kết của các nước xã hội chủ nghĩa giúp Việt Nam thông quan các hội hữu nghị của ta cũng khá nhiều, nhưng việc tiếp nhận và phấn phôi lúc đó do Bộ Tài chính đảm nhận.

Sau Đại hội lần thứ VII của Đảng, tháng 6-1991, công tác đối ngoại nhân dân đã nhận được sự chỉ đạo ngày càng chặt chẽ. Ngày 10-1-1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định số 22-QĐ/TW tách Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam khỏi Ban Đối ngoại Trung ương thành một tổ chức chính trị - xã hội độc lập, đánh dấu một thời kỳ phát triển mới của các hoạt động đối ngoại nhân dân trên các lĩnh vực hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và quan hệ với các tổ chức phi chính phủ nước ngoài.

Trực tiêp triển khai các hoạt động đối ngoại nhân dân trong giai đoạn 1975-1992  là các tổ chức được thành lập và trưởng thành qua các thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và một số tổ chức mơi ra đời sau năm 1975. Trong số đó, đáng chú ý nhất có:

  1. Ủy ban Việt Nam đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước (ra đời ngày 5-6-1974) do đồng chí Hoàng Minh Giám làm Chủ tịch, đồng chí Trần Duy Hưng làm Phó Chủ tịch.
  2. Ủy ban Hòa bình Việt Nam (thành lập năm 1950 với tên gọi Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam), lần lượt có các vị Chủ tịch là: Bác sĩ Lê Đình Thám (1950-1967), Luật sư – Bộ Trưởng Phan Anh (1967-1988), Luật sư – Bộ trưởng Phan Hiển (1989-1999), Giáo sư Vũ Đình Cự - Phó Chủ tịch Quốc Hội (1999-2011) và hiện nay là đồng chí Uông Chu Lưu – Phó Chủ Tịch Quốc hội.
  3. Hội Quốc tế ngữ bảo vệ hòa bình của Việt Nam (thành lập năm 1956, theo Điều lệ đầu tiên là thành viên của Ủy ban Bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam).     Hội do đồng chú Nguyễn Văn Kỉnh làm Chủ tịch. Năm 1988, Hội tách ra thành một tổ chức độc lập. Hiện nay, đồng chí Nguyễn Văn Lợi, Hiệu trưởng trường Đại học Ngoại ngữ thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội làm Chủ tịch.
  4. Ủy ban Đoàn kết nhân dân Á – Phi (thành lập năm 1956 với tên gọi Ủy ban Đoàn kết châu Á, năm 1994 đổi tên thành Ủy ban Việt Nam đoàn kết và hợp tác Á – Phi -  Mỹ Latinh) lần lượt có các vị Chủ tịch là: đồng chí Nguyễn Văn Hưởng, Phó Chủ tịch Quốc hội; đồng chí Tôn Quang Phiệt, Tổng Thư ký Ủy ban Thường vụ Quốc hội; đồng chí Nguyễn Thị Thập, Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam; đồng chí Trần Danh Tuyên, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương; đồng chí Trịnh Ngọc Thái, Phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương (1988-1992); và đồng chí Phạm Văn Chương, Phó trưởng ban Đối ngoại Trung ương (từ 1992 tới nay).
  5. Hội Hữu nghị Việt Nam – Liên Xô (hay còn gọi là Hội Hữu nghị Việt – Xô) thành lập năm 1950, lần lượt có các vị Chủ tịch là: đồng chí Tôn Đức Thắng; Chủ tịch nước; đồng chí Xuân Thủy, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; đồng chí Nguyễn Vịnh, trưởng ban Tuyên huấn Trung ương; đồng chí Đặng Hữu, Ủy viêm Trung ương Đảng.
  6. Hội Hữu nghị Việt – Trung (thành lập năm 1950), lần lượt có các vị Chủ tịch là: đồng chí Hồ Tùng Mậu, Tổng Thanh tra đầu tiên của Chính phủ; đồng chí Bùi Kỷ, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng chí Xuân Thủy, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; đồng chí Hoàng Quốc Việt, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; đồng chí Nguyễn Công Tạn, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; đồng chí Nguyễn Cảnh Dinh, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; đồng chí Đoàn Mạnh Giao, Bộ trưởng – Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; hiện nay là đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Khoa học và Xã hội Việt Nam.
  7. Hội Hữu nghị Việt – Pháp (thành lập năm 1961), lần lượt có các vị Chủ tịch là: Giáo sưu Hồ Đắc Di, Hiệu trưởng đầu tiên của trường Đai học Y Hà Nội; Giáo sư Hoàng Xuân Sính; Nguyễn Văn Hiểu, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đồng chí Chu Hảo, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ; hiện nay là đồng chí Nguyễn Huy Quang, nguyên Phó Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng.
  8. Ủy ban Đoàn kết với nhân dân Mỹ (thành lập năm 1968 ở cả hai miền Nam – Bắc; năm 1976 hợp nhất thành Ủy ban Việt Nam đoàn kết với nhân dân Mỹ, về sau đổi tên là Hội Việt – Mỹ). Hội lần lượt có các vị Chủ tịch là: đồng chí Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Tư pháp; Giáo sư Nguyễn Huy Phan; đồng chí Chu Tuấn Nhạ, Bộ trưởng Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Giáo sư Đặng Vũ Minh; hiện nay là đồng chí Nguyễn Tâm Chiến, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.
  9. Thời kỳ này có thêm một số hội hữu nghị mới được thành lập như: Hội hữu nghị Việt Nam – Hunggari do đồng chí Trần Đình Hoan, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội làm Chủ tịch; Hội hữu nghị Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức do đồng chí Đình Quang, Thứ trưởng Bộ Văn hóa làm Chủ tịch; Hội hữu nghị Việt Nam – Balan do đồng chí Vũ Ngọc Hải, Bộ trưởng Bộ Năng lượng làm Chủ tịch. Các hội hữu nghị Việt Nam – Cuba, Việt Nam – Mông Cổ, Việt – Nhật được thành lập trước đây vẫn tiếp tục hoạt động, Riêng Hội hữu nghị Việt – Triều hoạt động khó khăn với các đối tác Triều Tiên do ảnh hưởng của quan hệ Việt – Trung.
  10.  Do yêu cầu tăng cường ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân các nước đang phát triển, một số ủy ban đoàn kết và hội hữu nghị được thành lập mới, như: Ủy ban Đoàn kết với Chile, Ủy ban đoàn kết với En Xanvanđo, Ủy ban Đoàn kết với Palextin, Hội hữu nghị Việt Nam – Irac, Việt Nam – Xyri.

Đối tác của các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam bước đầu được đa dạng hóa, nhưng chủ yếu vẫn thuộc nhóm các nước xã hội chủ nghĩa và các nước đang phát triển

-         Với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông ÂU, ta có quan hệ rất chặt chẽ. Các nước này tận tình giúp đỡ các hoạt động hòa bình, đoàn kết, hữu nghị của Việt Nam. Hàng năm, có các hội nghị tư vấn các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị và Quốc tế ngữ các nước xã hội chủ nghĩa để thống nhất chủ trương hoạt động và trao đổi kinh nghiệm.

-         Với Lào, sau thắng lợi của cách mạng Lào (1975), quan hệ Việt Nam – Lào về mặt nhà nước cũng như về mặt nhân dân ngày càng găn bó. Ta đã giúp Lào thành lập Ủy ban Hòa bình Lào (năm 2010 đổi tên thành Ủy ban Hòa bình, hữu nghị và hợp tác Lào). Tại nhiều hội nghị quốc tế về hòa bình và đoàn kết được tổ chức tại Lào, ta đã tích cực phối hợp và giúp bạn bè về thông tin, kinh nghiệm tổ chức và cả chuyên gia.

-         Với Campuchia, sau khi chính quyên Pôn Pốt bị đánh đổ (tháng 1-1979), với sự giúp đỡ của Việt Nam, các hoạt động hòa bình, đoàn kết, hữu nghị đã được khôi phục; Ủy ban Hòa bình, đoàn kết Campuchia được thành lập. Một số hội nghị quốc tế do Hội đồng Hòa bình thế giới và Tổ chức Đoàn kết nhân dân Á – Phi chủ trì đã được tổ chức

-         ở Campuchia.

-         Với Trung Quốc, ngay cả trước khi quan hệ hai nước trở lại bình thường năm 1991, hàng năm, Hội hữu nghị Việt – Trung vẫn cùng Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội tổ chức đi thăm mộ các liệt sĩ Trung Quốc hy sinh ở Việt Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ.

-         Với Mỹ và các nước phương Tây khác, ta vẫn duy trì tốt quan hệ với các tổ chức và phong trào hòa bình, đoàn kết, hữu nghị.

-         Nhiều đoàn quan trọng của các tổ chức nhân dân và phi chính phủ Mỹ đã đến thăm Việt Nam, là khách của Hội Việt – Mỹ. Ví dụ các đoàn tìm hiểu Việt Nam của các học giả Mỹ do Tổ chức Hòa giải Đông Dương (do John Mc Auliff làm Chủ tịch), Ủy ban Hợp tác khoa học – kỹ thuật Mỹ - Việt (do Edward Cooperman rồi Judith Ladinsky làm Chủ tịch) đã tổ chức cho các nghị sĩ – cựu chiến binh John Kerry, Bob Smith quay lại Việt Nam tìm hiểu tình hình lính Mỹ mất tích (MIA) và “thăm chiến trường xưa”. Một số tổ chức phi chính phủ Mỹ bắt đầu đến Việt Nam để thực hiện các dự án viện trợ nhỏ. Với Tây Âu, quan hệ giữa Việt Nam với các tổ chức ở Cộng hòa Liên bang Đức, Anh, Pháp, Thụy Điển, Italia vẫn tiếp tục được duy trì, phát triển. Hội hữu nghị Cộng hòa Liên bang Đức – Việt Nam đã tổ chức nhiều đoàn du lịch chuyên đề và tổ chức hai hội thảo tại Dusseldorf, Đức (1987-1989). Hội hữu nghị Pháp – Việt và Hội hữu nghị Việt – Pháp thỏa thuận tổ chức du lịch chuyên đề. Ủy ban Giúp đỡ y tế của Anh, Ủy ban Đoàn kết Việt Nam, Lào, Campuchia của Thụy Điển, các hội hữu nghị vùng của Italia tiếp tục quyên góp giúp Việt Nam các dụng cụ y tế và các dự án xóa đói giảm nghèo.

Sau khi Việt Nam rút hết quân tình nguyện khỏi Campuchia (năm 1989), quan hệ đối ngoại nói chung và đối ngoại nhân dân nói riêng của Việt Nam càng được mở rộng. Thêm nhiều đoàn Mỹ và Tây Âu vào thăm Việt Nam. Một số hội thảo về tình hình và quan hệ Việt Nam với thế giới, như các hội thảo với Hội hữu nghị Cộng hòa Liên bang Đức – Việt Nam tại Dusseldorf (1985-1989) và Berlin (1990), và cuộc đối thoại về quan hệ Mỹ  - Việt do Viện ASPEN (Mỹ) tổ chức tại  Phigi (1990) được tiến hành và đạt kết quả tốt.

Đáp ứng mong muốn và với sự giúp đỡ của Tổ chức Đoàn kết nhân dân Á – Phi (AAPSO) tăng cường hoạt động ở châu Á, năm 1982, Ủy ban Đoàn kết Á – Phi của Việt Nam đảm nhận vai trò đầu mối của AAPSO tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, đặt trụ sở Trung tâm thông tin liên lạc châu Á – Thái Bình Dương của AAPSO tại Hà Nội, do Giáo sư Phạm Khắc Quảng, Phó Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết  Á – phi Việt Nam, Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết Á – Phi Hà Nội, làm Giám đốc, với một nhà in riêng là Nhà in Á – Phi.

  Gửi tin phản hồi Gửi Email In bài viết
Ý kiến bạn đọc gửi
Tin tức này chưa có ý kiến nào
Liên kết website